Nguyên liệu hảo hạng


MẬT ONG

honey-ban-me-thuot

           Mật ong là chất lỏng sánh, vị ngọt, mùi thơm đặc trưng, do ong hút các dịch ngọt tiết ra từ các bộ phận sống của cây như lá, hoa, chồi rồi đem về tổ, sau đó được ong chế biến và luyện thành mật ong, bằng cách cho bốc hơi nước đi và bổ sung thêm một số en-zim. Sau khi mật “chín”, ong sẽ trữ mật trong các lỗ tổ và hàn nắp lại để bảo quản. Mật ong không được có bất kỳ hương vị hoặc mùi khó chịu nào, không được có chất lạ trong quá trình chế biến và bảo quản, cũng như không chứa những chất độc thực vật tự nhiên với hàm lượng có thể gây hại cho sức khoẻ con người. Theo y học cổ truyền mật ong còn được gọi là bạch hoa cao hay bạch hoa tinh.

           Mật ong là một vị thuốc quý mà thiên nhiên đã ban tặng, trong mật ong có chứa 80% các loại đường, chúng tồn tại ở dạng hoạt tính, không cần trải qua chuyển hóa mà cơ thể người có thể thực tiếp hấp thụ được. Ngoài ra còn có cả các chất vi sinh tố, protein… có tác dụng tốt cho tiêu hóa, hấp thụ dinh dưỡng, đó là nguồn thực phẩm vô cùng quý giá. Vì vậy, mật ong là loại thực phẩm dinh dưỡng độc đáo có nguồn gốc hoàn toàn từ tự nhiên, việc thường xuyên sử dụng mật ong sẽ mang lại cho con người sức khỏe cường tráng, phòng chống được một số bệnh tật thông thường, từ đó tăng thêm niềm tin vào cuộc sống. Mật ong xứng đáng là món quà tặng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng.

           Các thành phần cơ bản trong mật ong

           Mật ong có thành phần rất phức tạp, nguồn hoa khác nhau thì thành phần của mật ong cũng khác nhau. Có khoảng 100 chất khác nhau có giá trị tốt đối với cơ thể con người.
– Nước: Hàm lượng nước là một chỉ số rất quan trọng để đánh giá mật ong tốt. Tiêu chuẩn về hàm lượng nước trong mật ong tốt là từ 19 đến 22%. Nếu hàm lượng nước trong mật ong cao hơn 22%, mật ong sẽ rất khó bảo quản và dễ bị biến chất  (dễ lên men và bị chua)
– Đường: Chủ yếu là đường glucose và levulose chiếm 60 – 70% và một số đường khác như mantose, oligosac-charid.
– Mật ong rất giàu vitamin, nhất là vitamin B1, B12, B3, B5, C, H, K, A, E và acid folic.
– Các loại men tiêu hóa cũng đa dạng như diastase, catalase, lipase.
– Mật ong còn chứa các acid hữu cơ, đều là các acid quan trọng như: acid citric, acid tartric, acid formic, acid malic, acid oxalic …
– Đặc biệt rất giàu các chất khoáng và các nguyên tố vi lượng như: Na, Ca, Fe, K, Mg, Al, Mo, Ag, Ba, Au, Co, Mn, Ra, Si, Cl, P, S, I, V, Bo, Cr, Cu, Zn, Pb, Li, Sn, Ti,…
– Acid amin trong mật ong bao gồm alanin, arginin, glutamic acid, aspartic acid, histidin, isoleucin, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, serin, threonin, ty-rosin, tryptophan, valin, glycin. Đây là những acid amin (chất đạm) rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể.
Ngoài ra, trong mật ong còn chứa các hormon; các fitonxid; các chất diệt nấm; các chất thơm và nhiều chất khác…

NGHỆ VÀNG

v2

          Củ nghệ vàng còn có các tên gọi như khương hoàng, uất kim… Theo y học cổ truyền, khương hoàng (thân rễ củ nghệ) vị cay, đắng, tính bình tâm, can, tỳ, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, làm tan máu ứ và giảm đau, bụng trướng đầy, cánh tay đau, bế kinh, sau đẻ đau bụng do ứ trệ, vấp ngã, chấn thương, ung thũng…

          Nghệ hay nghệ vàng – Curcuma longa L. thuộc họ gừng – Zingiberaceae. Cây thảo cao khoảng 1 m. Thân rễ to, hình củ tròn, có các nhánh hình trụ hay hình thoi, thịt màu vàng da cam. Thân mang lá mọc hàng năm. Lá có cuống dài, hình trái xoan mũi mác, dài 25 – 45 cm, rộng tới 15 – 18 cm, nhẵn cả hai mặt, màu lục nhạt, cuống lá có bẹ. Hoa hợp thành những bông hình trụ, cánh hoa và cánh môi đều màu vàng, các lá bắc màu lục, những cái ở ngọn màu tím. Quả nang chia ba ô.

          Ở nước ta, nghệ mọc hoang và được trồng khắp nơi, mỗi gia đình nông thôn thường trồng ít nhiều để dùng.

         Trong nhân dân, nghệ dùng bôi lên các mụn nhọt sắp khỏi để mụn mau liền miệng, lên da non và không để lại sẹo xấu. Mới đây, các nhà khoa học nghiên cứu và xác định được nghệ còn có tác dụng hưng phấn và co bóp tử cung; chống viêm loét dạ dày do tác dụng tăng bài tiết chất nhày mucin; lợi mật, thông mật, kích thích tế bào gan và co bóp túi mật; làm giảm lượng cholesterol trong máu; tác dụng kháng sinh cả trên vi khuẩn gram (+); tác dụng kháng viêm tương đương hydrocortison và phenylbutazon. Tác dụng giảm tỷ lệ mắc ung thư như ung thư vú, tuyền tiền liệt, phổi và ruột kết nếu chế độ dinh dưỡng có nhiều chất nghệ.

          Y học hiện đại đã chứng minh chiết xuất curcumin (sắc tố màu vàng trong củ nghệ) có tác dụng chống ung thư, chống oxy hóa, giải độc, bảo vệ gan, ngăn chặn tình trạng suy nhược và suy giảm miễn dịch kéo dài… Đặc biêt, curcumin có thể ngăn ngừa bệnh tim, giảm nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim, chứng phì đại tim, hồi phục chức năng tim và giảm việc hình thành sẹo. Ngoài ra, curcumins còn tác dụng trực tiếp lên tế bào bằng cách ngăn ngừa việc sản sinh quá nhiều protein bất thường, chống lão hóa hiệu quả và giảm được cholestorol trong máu.

          Gần đây, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Pharmacology của Mỹ cho thấy, chiết xuất từ nghệ giúp giảm 65% nguy cơ đau tim ở những người mới trải qua phẫu thuật tim. Trong quá trình phẫu thuật kéo dài làm thiếu lưu lượng máu, cơ tim có thể bị hư hỏng do thiếu nguồn cung cấp máu, chiết xuất curcumin từ nghệ đã được đưa vào sử dụng cho những bệnh nhân này để hỗ trợ chống viêm, làm giảm các cơn đau và co thắt ở tim.

Bạn có biết?

          – Nghệ còn được sử dụng làm thuốc chữa các bệnh về mật và gan.

          – Phụ nữ sau sinh bị đau bụng thường được uống nước chất của nghệ để chữa trị.

          – Nghệ có tác dụng chống loét dạ dày, làm giảm tiết dịch vị, giảm độ acid của dịch vị và có tác dụng chống viêm.

          – Để trị viêm loét, nghệ thường được người bệnh uống dưới dạng nước ép trong một thời gian dài.

          – Khi dùng ngoài da, nghệ được bôi lên mụn nhọt, vết thương mới để chống gây sẹo.

Bốn công dụng nổi bật của củ nghệ:

          + Giúp giảm cân, lưu thông và lọc máu;

          + Giúp cơ thể chống lại các vi khuẩn sống ký sinh trong ruột, đặc biệt tốt cho hệ tiêu hóa;

          + Giúp kháng viêm, giảm nguy cơ nhiễm trùng;

          + Giúp khử trùng, mau lành vết thương.

NGHỆ ĐEN

nghe-den-ban-me-thuot

          Nghệ đen còn gọi là nga truật, ngải tím, tam nại… mọc hoang ở khắp các vùng rừng núi, ven suối và nương rẫy đất xốp có độ ẩm. Nghệ đen là vị thuốc được y học phương Đông dùng lâu đời.

          Theo y học cổ truyền, nghệ đen có vị đắng, cay, mùi thơm hăng, tính ấm, tác dụng hành khí, thông huyết, tiêu thực, mạnh tì vị, kích thích tiêu hóa, tiêu viêm, tiêu xơ.

          Nghệ đen thường được dùng để chữa:

          – Ung thư cổ tử cung và âm hộ, ung thư da, dùng dạng tinh dầu nguyên chất bôi tại chỗ mỗi ngày một lần.

          – Đau bụng kinh, bế kinh, kinh không đều.

          – Ăn không tiêu, đầy bụng, nôn mửa nước chua.

          – Chữa các vết thâm tím trên da.

PHẤN HOA

Phan-hoa-ban-me-thuot-1

          Phấn hoa thực chất là những tế bào sinh sản giống đực của các loài hoa được ong thu lượm. Phấn hoa có giá trị dinh dưỡng rất cao, thậm chí còn hơn cả những thực phẩm như trứng, sữa…

          Phấn hoa có chứa protein, axit amin, carbonhydrate, nhiều chất khoáng như K, Ca, Na, S, Cu, Fe… và vitamin như B1, B2, B3, B6, A, D, E…

          Theo y học cổ truyền, phấn hoa có vị ngọt, tính bình, tác dụng tư bổ cường tráng, ích khí dưỡng huyết và bổ thận. Người ta thường dùng phấn hoa để trị chứng suy nhược, thận tinh bất túc với các triệu chứng mỏi mệt rã rời, bồn chồn, bực bội, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, hay quên, ăn kém, suy giảm tình dục, đau lưng mỏi gối, liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm, đái đêm nhiều, muộn con, tắt kinh sớm… Y thư cổThần nông bản thảo kinh cho rằng, nếu dùng phấn hoa lâu ngày có thể làm cho cơ thể trở nên nhẹ nhàng, khí lực sung mãn và trẻ lâu.

          Nhiều bằng chứng khoa học đã ghi nhận, phấn hoa có tác dụng phòng chống cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tiểu đường, viêm loét dạ dày tá tráng, viêm gan, chống lão hóa, chống phóng xạ, tăng cường công năng miễn dịch, thúc đẩy quá trình tạo huyết, kiện não, bổ tủy, cải thiện trí nhớ, điều tiết nội tiết tố, khống chế tuyến tiền liệt tăng sinh, tăng cường khả năng tình dục, phòng chống ung thư và làm đẹp da.

           Người ta thường dùng phấn hoa bằng cách ăn tự nhiên hoặc pha với nước sôi để uống, ngâm rượu và trộn lẫn với mật ong để ăn. Với trẻ em, có thể dùng dưới dạng nấu lẫn với bột hoặc cháo. Cho đến nay, quan điểm về liều lượng phấn hoa mỗi ngày chưa thật sự thống nhất. Phần đông cho rằng, đối với người trưởng thành, tối đa nên dùng 5-10 g, còn trẻ em thì giảm bớt liều, từ 2-3 g/ngày. Trung tâm Nghiên cứu ong trung ương khuyên dùng mỗi ngày 1-2 thìa cà phê, chia làm 2 lần. Nói chung, mỗi ngày nên dùng khoảng 5 g là vừa phải.

SỮA ONG CHÚA

sua-ong-chua-ban-me-thuot

          Sữa Ong Chúa là chất được tiết ra từ những hạch trên đầu của ong chuyên biệt gọi là “ong vú nuôi” (ong thợ) để nuôi ong chúa và ấu trùng ong chúa. Sữa ong chúa là một hợp chất dinh dưỡng đặc biệt, thành phần hoá học của nó rất phức tạp phụ thuộc vào đàn ong và nguồn phấn hoa…

          – Sữa ong chúa chứa đựng nhiều chất dinh dưỡng tuyệt vời và có hoạt tính sinh học cao như các vitamin nhóm B như B1, B2, B5, B6, B12, niacin, biotin, folic acid, inositol và choline có tác dụng cung cấp năng lượng và tăng sức chịu đựng, hỗ trợ hệ thống thần kinh và giảm stress.  Các vitamin A, C, D và E, là những chất chống oxy hóa mạnh có tác dụng chống lão hóa. Sữa ong chúa chứa 22 axit amin và các khoáng chất như canxi, đồng, sắt, magiê, kali, kẽm,  phốt pho, silic, lưu huỳnh và thành phần lipid gồm axit béo, phospholipid, peptide, carbohydrates, 10-HAD,  giàu axit nucleic, RNA và DNA… trong số đó là các chất dinh dưỡng cần thiết có tác dụng chống suy nhược cơ thể, thần kinh, có tác dụng an thần,điều trị chứng mất ngủ, người mới ốm dậy sau khi phẫu thuật, phụ nữ sau khi sinh bị băng huyết, ít sữa. Sữa ong chúa chống lão hóa,cung cấp gelatin là một trong những tiền chất của collagen dưỡng da, kéo dài tuổi thọ tế bào da, giảm nếp nhăn, sửa chữa và loại bỏ những tế bào bị tổn thương như lão hóa, chống nám, sạm, tàn nhang, viêm tuyến nhờn,  mụn đỏ, mụn trứng cá… cải thiện làn da, giúpda trắng hồng, căng mịn, giữ cho làn da hấp dẫn, mịn màng, trẻ trung để gìn giữ nét thanh xuân. Thậm chí, sữa ong chúa còn được Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra bí mật sử dụng như bí quyết làm đẹp để vượt qua những phụ nữ xung quanh cô. Cho đến nay, sữa ong chúa luôn khẳng định được đẳng cấp dinh dưỡng và nghệ thuật làm đẹp, nâng cao sức khỏe làn da, sự tự tin và hạnh phúc của quý bà.

          – Sữa ong chúa là loại thuốc bổ rất đặc biệt đối với người già, suy nhược, thiếu máu. Tác dụng hạ đường huyết giúp cải thiện dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường phải áp dụng chế độ ăn kiêng, phòng chống các biến chứng của bệnh tiểu đường.

          – Tác dụng trên hệ tim mạch: giảm mỡ máu, tăng sức co bóp cơ tim, phòng trị các bệnh mạch vành, điều hòa huyết áp (hạ huyết áp ở người bị cao huyết áp và nâng huyết áp ở người huyết áp thấp) . Bảo hộ và cải thiện công năng tạo huyết của tủy xương, làm tăng số lượng và chất lượng các tế bào máu …giúp tăng cường sức co bóp cơ tim, huyết áp thấp, phòng chống tích cực tình trạng vữa xơ động mạch, tổn thương động mạch….

          –  Sữa ong chúa chứa các enzymes giúp tăng cường hệ thống miễn dịch nâng cao sức đề kháng của cơ thể, chống ung thư và phóng xạ, ức chế tế bào ung thư máu, lim phô hạt ác tính, K vú, K màng bụng cổ chướng… kháng khuẩn và chống viêm,…

          – Sữa ong chúa cung cấp lượng một lượng hormon tự nhiên đáng kể có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát dục của cơ thể, cải thiện công năng của các tuyến nội tiết. Sữa ong chúa tăng cường khẳ năng sinh dục và sinh sản, hiệu quả với phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh vì liên quan đến việc sản xuất estrogen, mong muốn kéo dài thời gian sinh hoạt tình dục. Nam giới có khả năng tình dục kém, cải thiện số lượng và chất lượng tinh trùng, tăng độ cương cứng và phóng tinh.

          – Sữa ong chúa có thể dùng cho mọi đối tượng, người già yếu, suy nhược toàn thân, thiếu máu, người thường xuyên phải làm việc với máy tính,  làm việc khuya, thức đêm nhiều dẫn tới hoa mắt, mắt mỏi, chảy nước mắt, nhức mắt, có quầng thâm xung qoanh mắt. Sữa ong chúa có tác dụng chống trầm cảm, biếng ăn, thiếu máu – giúp ăn ngon, nâng cao năng lực tư duy và trí nhớ.  Sữa ong chúa với đầy đủ các chất bổ dưỡng thiên nhiều làm cân bằng hệ thống thần kinh não bộ giúp cơ thể thư giãn và giấc ngủ đến tự nhiên, làm tăng cảm giác thảnh thơi, khỏe khoắn của cơ thể.